Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Việc Khám Xét Nghiệm Sàng Lọc Thai Nhi Trong 3 Tháng Đầu Là Rất Quan Trọng

Khi tôi mang bầu bé đầu được 16 tuần, tôi có làm xét nghiệm triple test tại Phòng khám đa khoa T.T (25 Thái Thịnh). Đây là nơi tôi theo khám từ những ngày đầu phát hiện có thai. Tại đây, bác sĩ tư vấn cho tôi về việc làm xét nghiệm triple test và tôi đã đồng ý làm xét nghiệm.

Trẻ bị dị tật bẩm sinh thường mang các dị tật như: hội chứng down, chậm lớn, chậm phát triển về trí tuệ, rối loạn giới tính, không thể phát dục… 



Trẻ bị khuyết tật bẩm sinh là gánh nặng cho cả gia đình và xã hội. Do đó, việc sàng lọc và chẩn đoán khi mang thai có thể phát hiện và can thiệp sớm các dấu hiệu để giúp trẻ phát triển bình thường. Hoặc việc can thiệp này có thể giúp giảm nhẹ các hậu quả cho trẻ. Ngoài ra, nó còn giúp cha mẹ có những quyết định giữ hay bỏ thai nhi nếu thai nhi mang những khuyết tật quá nặng, khó có thể sống sót hay phát triển sau khi được sinh ra. 

xét nghiệm sàng lọc thai nhi nhằm phát hiện các thai có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh, Triple test là loại xét nghiệm sàng lọc sử dụng máu mẹ để tìm hiểu nguy cơ một số rối loạn bẩm sinh ở thai.

Triple test còn được gọi là bộ 3 xét nghiệm, bởi vì chúng cho biết 3 chỉ số: hCG, AFP và estriol.

- AFP (alpha-fetoprotein) là protein được sản xuất bởi bào thai.

- hCG: một loại hormone được sản xuất trong nhau thai.

- Estriol: là một estrogen (một dạng hormone) được sản xuất bởi cả bào thai và nhau thai.

xét nghiệm sàng lọc thai nhi thường được thực hiện trong tuần thứ 15-20 của thai kỳ, bằng cách phân tích mẫu máu của mẹ. Do đó, nó không ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé. Kết quả có thể được trả lại cho thai phụ vài ngày sau đó.

Khi tôi mang bầu bé đầu được 16 tuần, tôi có làm xét nghiệm triple test tại Phòng khám đa khoa T.T (25 Thái Thịnh). Đây là nơi tôi theo khám từ những ngày đầu phát hiện có thai. Tại đây, bác sĩ tư vấn cho tôi về việc làm xét nghiệm triple test và tôi đã đồng ý làm xét nghiệm.

Lúc ấy, tôi làm xét nghiệm với tinh thần lạc quan, nghĩ chỉ là làm cho đủ thủ tục, giúp bản thân yên tâm hơn khi mang thai. Vì lúc đó, cả hai vợ chồng tôi đều còn rất trẻ (25 tuổi), tiền sử gia đình không có ai mắc bệnh, trong quá trình mang thai, tôi cũng không sử dụng bất kì loại thuốc nào gây hại cho thai nhi.

Nhưng sau đó 1 tuần, khi phòng khám gọi điện tới lấy kết quả, tôi đã hết sức bàng hoàng, sợ hãi vì bé nhà tôi có nguy cơ bị down cao (1/89). Mặc dù trước đó, khi siêu âm độ mờ da gáy ở tuần thứ 12, chỉ số hoàn toàn bình thường.

Ở lần xét nghiệm đầu tiên, con của tôi có nguy cơ bị down cao

Ngay lập tức, tôi nghĩ tới việc xét nghiệm mà tôi vừa thực hiện cho kết quả không chính xác nên muốn làm một kết quả khác. Lần này, tôi không chọn phòng khám này nữa mà quyết định từ mình tới tận nơi có thể làm xét nghiệm để lấy máu. Vì phòng khám TT chỉ lấy mẫu máu và chuyển sang Bệnh viện Đại học Y để bên đó làm xét nghiệm.

Tôi tự mình đi xe tới Bệnh viện Medlatec với mong muốn có kết quả nhanh và tốt hơn so với kết quả tôi nhận được vào buổi sáng. Sau khi lấy máu vào tầm 11 giờ trưa thì buổi chiều cùng ngày, tôi được hẹn lấy kết quả. Lần này, nguy cơ bị down của bé nhà tôi đã hoàn toàn biến mất. Cú sốc vì lo lắng, sợ hãi về việc con có nguy cơ bị down của tôi do kết quả tồi tệ buối sáng mang lại tạm thời chìm xuống.

Lần xét nghiệm thứ 2, con của tôi có nguy cơ bị down rất thấp

Buổi tối hôm đó, khi chồng đi làm về, tôi đã ngay lập tức chia sẻ về 2 xét nghiệm này triple test này. Chồng tôi có động viên là xét nghiệm triple test chỉ đưa ra dự đoán xác suất. Và cứ cho là kết quả ban đầu là hoàn toàn chính xác thì tôi vẫn có tới 88 cơ hội sinh con khỏe mạnh vì nguy cơ ban đầu là 1/89.

Thế nhưng, nếu điều không may mắn đó, rơi vào chính tôi thì sao? Khi chồng đã đi ngủ, tôi vẫn lọ mọ search mạng, tìm hiểu về xét nghiệm triple test với mong muốn tìm kiếm cho mình một cột bám vững chắc hơn, giúp tôi có thể yên tâm sinh bé.


Trong đó, có một số mẹ cũng rơi vào hoàn cảnh như tôi, có các kết quả xét nghiệm sàng lọc thai nhi triple test khác nhau và cũng có nhiều mẹ mặc dù có kết quả nguy cơ sinh con bị down cao nhưng lại sinh con bình thường, khỏe mạnh. Và một số mẹ, khi xét nghiệm có nguy cơ cao, sau khi siêu âm ở tuần thứ 22, nếu có dấu hiệu bất thường, có thể làm thêm xét nghiệm sinh thiết gai nhau hoặc chọc ối.

Vì thế, ở tuần 22, khi đi siêu âm 4D tại Phòng khám đa khoa phía Nam Hà Nội, nơi bác sĩ Bùi Minh Việt, một người có tay nghề khá cao và nổi tiếng siêu âm cẩn thận, có tâm làm, tôi đã trình bày về hoàn cảnh của mình.

 Anh Việt rất thông cảm và trong quá trình siêu âm, anh chỉ rất cẩn thận cho mình. Nào là nếu con bị down thì trán sẽ ngắn như nào, ngón chân cái và các ngón còn lại rời nhau ra sao... Và may mắn làm sao, con gái bé bỏng của mình hoàn toàn không có dấu hiệu nào cho thấy bé có nguy cơ bị down. Tới tận lúc này, tôi mới thực sự thở phào nhẹ nhõm, trút bỏ gánh nặng mang trong đầu suốt 6 tuần qua, từ khi nhận được kết quả xét nghiệm triple test đầu tiên.


 Nhưng không phải nó luôn sai và chẳng có tác dụng gì. Bởi có nhiều mẹ đã và đúng là con bị down. Trong trường hợp bạn có nguy cơ, hãy nghe tư vấn của bác sĩ về sàng lọc sinh thiết gai nhau, về chọc ối và quyết định có làm không.

Điều quan trọng là, người mẹ và gia đình sẽ có sự chuẩn bị tâm lý khi có ý định sinh con, có sức mạnh để đối diện với những khó khăn về kinh tế, về tinh thần. 


Người mẹ được báo trước về những điều cần làm cho con chứ không bị động, không bị sốc. Vì con cần mẹ mạnh mẽ, cần mẹ luôn ở bên con...


Nằm trằn trọc cả đêm, hôm sau, mình đi làm muộn. Sếp hỏi lí do, tôi khóc tu tu, kể lại câu chuyện đi làm xét nghiệm, kết quả tệ thế nào. Sếp của tôi là nữ nên rất tâm lí. Nghe xong, chị ấy hỏi tôi một câu làm tôi suy nghĩ mãi: “Nếu đúng là con bị dị tật như thế, em có sinh con không? Nếu em sinh con, em có nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ từ chồng, gia đình chồng không? Nếu không có sự đồng cảm từ chồng, từ gia đình, em sẽ làm gì?”. Tôi im lặng, không biết trả lời sao, chỉ thở dài bảo “Em sẽ suy nghĩ kĩ về câu hỏi của chị”.

Sau đó, tôi vẫn quyết định ra Bệnh viện phụ sản trung ương làm thêm một xét nghiệm triple test nữa để làm căn cứ quyết định. May mắn, xét nghiệm tại sản C cho kết quả tốt. Mình cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, những ngày sau đó, mình vẫn không ngừng tìm kiếm các thông tin về xét nghiệm triple test, đọc bất cứ chia sẻ nào của các mẹ bỉm sữa về nó. 


Quả thực, lúc đó, cái ý nghĩ sinh con bị down khiến tôi sợ tới chỉ mong kết quả xét nghiệm đầu tiên là sai. Tôi không dám nghĩ tới việc nếu đúng là con bị down thì tôi có đủ dũng cảm để sinh con ra hay không nhưng bỏ đi đứa con bé bỏng vẫn đang thành hình của mình là điều mà tôi không muốn.

Nhiều người nói với tôi rằng số tiền mà tôi bỏ ra để làm xét nghiệm triple test thật lãng phí, chẳng giúp được điều gì, thậm chí còn gây hoang mang, mệt mỏi cho tôi và cả chồng của tôi. 

Tuy nhiên, là người trong cuộc, đã trải qua quãng thời gian khó khăn khi xét nghiệm, tôi thấy nó không hoàn toàn vô nghĩa. Tôi đã thử đặt mình vào trong tình huống con gái của tôi bị down và đưa ra những dự định của mình, cố gắng chuẩn bị tâm lí cho bản thân, cho chồng. Và bây giờ, mỗi khi con ốm, sốt..., đối diện với mệt mỏi, lo lắng về sức khỏe của con, tôi có thể tự an ủi mình “Mọi chuyện đã có thể tệ hơn thế rất nhiều”. 


Tôi nhận thấy rằng xét nghiệm triple test không thần thánh tới mức giúp bạn biết được tất cả các nguy cơ dị tật có thể có ở con của bạn. Thậm chí, nó còn có thể cho kết quả dương tính giả. Nghĩa là con bạn hoàn toàn bình thường nhưng nó có lại báo con bạn có nguy cơ, như con gái của mình.



Xét Nghiệm Down Cho Thai Nhi Nhằm Đảm Bảo Sức Khỏe Cho Bé

Còn ba tuần nữa là tới ngày “đại sự” của cả đời, đôi bạn trẻ Thanh Tú – Anh Khoa (quê Hà Nam) đang trong giai đoạn “căng mình” lo việc đám cưới. Nào là chụp ảnh cưới, in thiệp cưới; nào là lên danh sách mời người thân, bạn bè; rồi đến việc chọn địa điểm đi hưởng tuần trăng mật ở đâu... Cả một danh sách công việc dài dằng dặc khiến đôi trẻ luôn tất bật, quay cuồng.

Tuy nhiên, khi đề cập đến việc đi khám sức khỏe trước khi kết hôn, cả hai đều lắc đầu nói: “Chưa đi khám xét nghiệm down cho thai nhi”. Chàng trai nói thẳng tuột: “Bọn em đều khỏe mạnh bình thường, sao phải đi khám làm gì, vừa tốn tiền vừa tốn thời gian”. 


Còn cô nàng Thanh Tú liếc nhìn người yêu rồi thủ thỉ: “Em cũng biết khám sức khỏe tiền hôn nhân là tốt cho cả hai nhưng cứ thấy hơi ngại. Vả lại, đợt này bọn em bận quá, cũng chẳng có thời gian đi. Thôi để sau này lúc muốn có con rồi khám một thể cũng được”.

Cũng chỉ vì chủ quan, “đợi” sau này đi khám giống cô nàng Thanh Tú mà giờ đây, chị Ngọc Minh (ở Ứng Hòa, Hà Nội) phải sống trong nỗi ân hận muộn màng. Chị Minh cho biết, lấy chồng được gần một năm mà vẫn chưa thấy “tin tức” gì, lại thấy sức khỏe ngày càng giảm sút, chị mới quyết định đến phòng khám sản khoa để kiểm tra.

 Nào ngờ, kết quả xét nghiệm máu xét nghiệm down cho thai nhi cho thấy, chị bị dương tính với HIV. Như không tin vào mắt mình, chị cấp tốc vào viện để kiểm tra sức khỏe tổng thể. Tuy nhiên, kết quả vẫn không hề thay đổi. Các bác sĩ khẳng định, chị đã bị nhiễm HIV.

Ngay lập tức, chị Minh về yêu cầu chồng đi khám. Kết quả, anh cũng dương tính với HIV và đang trong giai đoạn chuyển sang AIDS. Khi nhận kết quả, chính chồng chị cũng sững người. Tuy nhiên, về sau, anh thú nhận, trước khi cưới chị, anh từng có đời sống tình dục không lành mạnh với nhiều người phụ nữ khác. Nhưng chồng chị khẳng định, anh không hề biết mình bị nhiễm HIV. Nếu biết trước, anh đã không kết hôn với chị.

 Quá choáng váng với hiện thực nghiệt ngã, chị Minh toan tự tử nhưng không thành. Hiện tại, chị vẫn luôn sống trong nỗi dằn vặt, tự trách bản thân mình. “Nếu ngày ấy, chúng tôi đi khám sàng lọc trước khi kết hôn, có lẽ giờ đây, cuộc đời tôi không thảm hại đến nông nỗi này”, chị Minh thở dài.

Còn trường hợp của vợ chồng anh Quế, chị Huyền (cùng quê Hòa Bình) cũng đáng thương không kém. Cả hai cùng thuộc diện hộ nghèo, hầu như rất ít khi đi khám sức khỏe. Ốm đau bệnh tật cũng chỉ tự chữa bằng các bài thuốc dân gian. Đến khi lấy nhau, anh chị cũng không hề có khái niệm khám sàng lọc thai nhi ở đâu để dự phòng bệnh tật trước khi kết hôn. Hai năm sau ngày cưới, chị Huyền hạ sinh một cô con gái. Tuy nhiên, bé chỉ nặng 2,6kg. 7 tháng tuổi, con gái anh chị mới chỉ đạt gần 6 kg, người gầy quắt queo, lại thường hay quấy khóc liên miên.

Vay mượn tiền anh em họ hàng đưa con đi khám, anh chị sững người khi biết con bị bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia). Khi ấy, bác sĩ yêu cầu bố mẹ xét nghiệm sàng lọc thì mới phát hiện ra, anh Quế là người mang gene bệnh và đã di truyền sang cho con. Giờ đây, nhìn con còi cọc, hàng tháng phải lặn lội xuống Hà Nội truyền máu, thải sắt để duy trì sự sống, anh Quế mới thấy nỗi ân hận muộn màng mang tên: Giá như…

Sàng lọc sớm để kịp thời phát hiện bệnh


Theo các bác sĩ, khám sức khỏe tiền hôn nhân được xem là một hình thức xét nghiệm down cho thai nhi đầu tiên và vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số. Đây là việc rất cần thiết giúp phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm nhiều căn bệnh nguy hiểm, tránh được các hệ lụy không đáng có trong cuộc sống vợ chồng và tương lai của con cái sau này. Bên cạnh đó, việc khám sức khỏe tiền hôn nhân không chỉ đơn thuần là thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe của mình mà còn là thể hiện trách nhiệm đối với người chồng/vợ của mình.

Ngoài ra, việc chuẩn bị kiến thức, tâm lý cho cuộc sống tình dục vợ chồng sẽ khắc phục tối đa những lo lắng, sợ hãi, rối loạn cảm xúc, không thỏa mãn hay nghi ngờ lẫn nhau hiểu rõ được những đặc tính của giới và tránh lây nhiễm cho nhau những căn bệnh lây truyền qua đường tình dục. Sự hiểu biết và thực hiện những biện pháp sinh đẻ có kế hoạch không chỉ giúp kiểm soát được số con, khoảng cách giữa các lần sinh mà còn là một biện pháp bảo vệ sức khỏe và hình thức của người phụ nữ, tránh việc mang thai ngoài ý muốn dẫn đến phải nạo phá thai.

Tuy nhiên, trên thực tế, chưa nhiều bạn trẻ, người trước khi kết hôn biết đến lợi ích của khám sức khỏe tiền hôn nhân. Lý do chính của tình trạng này là tâm lý ngại ngùng hoặc không có sự đồng nhất tư tưởng giữa nam và nữ. Không ít trường hợp nam giới cho rằng, đối tác đang nghi ngờ “bản lĩnh đàn ông” nên mới đề nghị đi khám.

 Hoặc có nhiều bạn nữ muốn đi khám nhưng lại sợ bạn bè và người thân dị nghị “chắc là có vấn đề mới phải đi khám” và nếu trường hợp bị phát hiện ra bệnh tật, họ sợ tình yêu của người kia không đủ mạnh để có thể vượt qua cú sốc, cuộc hôn nhân có thể sẽ tan vỡ… Tất cả những suy nghĩ này vô hình chung đã tạo nên rào cản khiến ý nghĩa của việc khám sức khỏe tiền hôn nhân trở thành nỗi lo sợ, ám ảnh đối với nhiều bạn trẻ.

Theo thống kê, hàng năm, trên cả nước có hàng triệu thanh niên bước vào độ tuổi kết hôn. Trong khi đó, theo ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng 22.000 - 30.000 trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh, chiếm khoảng 1,5 - 2% dân số. Trong số các dị tật, có các bệnh phổ biến như: Down, hội chứng Ewards, dị tật ống thần kinh, suy giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh, tan máu bẩm sinh thể nặng và các bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh khác.

Do đó, nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng thực hành về sức khỏe sinh sản, giảm nguy cơ trẻ sinh ra bị dị dạng, dị tật bẩm sinh, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong những năm qua, Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) đã phối hợp với các địa phương triển khai mô hình Tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân.

Từ năm 2013, mô hình đã được triển khai tại 63/63 tỉnh thành. Đến nay, mô hình đã cho ra đời hàng ngàn CLB tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân với hàng trăm ngàn thanh niên thành viên, đã chăm sóc sức khỏe, tư vấn cho hàng triệu lượt người. 

Hoạt động này đã nâng cao nhận thức cho thanh niên, vị thành niên và đặc biệt là nâng cao kỹ năng trong việc chăm sóc SKSS/KHHGĐ cho các đối tượng chuẩn bị kết hôn. Đồng thời làm giảm tỷ lệ sinh con dị tật, mắc các bệnh chuyển hóa bẩm sinh góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Bên cạnh đó, các bạn trẻ có nhu cầu có thể tới các trạm y tế xã, phường, thị trấn; trung tâm y tế cấp quận, huyện, thành phố; khoa sản các bệnh viện; trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản các tỉnh để được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn để chuẩn bị sức khỏe tốt nhất cho cuộc sống hôn nhân hạnh phúc sau này.

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Sàng Lọc Trước Sinh Là Chẩn Đoán Quan Trọng Trong Thai Kỳ

Trong giai đoạn mang thai, cơ thể người phụ nữ có những thay đổi liên tục và khó dự đoán. Bên cạnh đó, các bệnh lý trong thai kỳ ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, nhất là đối với những phụ nữ trên 35 tuổi.

Việc chẩn đoán trước sinh có tầm quan trọng rất lớn nhằm chẩn đoán sớm các dị tật bẩm sinh của thai, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh, tỷ lệ trẻ bị dị tật, khuyết tật nặng nề.

Sàng lọc trước sinh là bước chẩn đoán quan trọng bạn cần phải thực hiện để đảm bảo sức khỏe cho thai nhi, giúp phát hiện sớm các hiện tượng bất thường khi đang mang thai nhằm có những phương pháp chăm sóc hay điều trị phù hợp và kịp thời.


Sàng lọc trong quý I của thai kỳ dựa trên độ mờ da gáy, xương mũi của thai nhi kết hợp với đánh giá nồng độ của B-hCG (freeBeta hCG) và PAPP-A trong huyết thanh của mẹ, cho phép phát hiện khoảng 95% thai kỳ mắc hội chứng Down. Trong quý II, xét nghiệm nồng độ AFP trong huyết thanh máu mẹ và siêu âm có thể phát hiện các khuyết tật hở của ống thần kinh.Các bước
sàng lọc trước sinh nên thực hiện:

Siêu âm:
- Khi thai nhi được 11 tuần – 13 tuần 6 ngày tuổi: Đây là thời điểm duy nhất để siêu âm nhằm do chiều dài đầu – mông của thai nhi, đây là chỉ số cho phép đánh giá tuổi thai và chiều dày của độ mờ da gáy. Độ mờ da gáy là một vùng chứa đầy dịch nằm phía sau cổ của tất cả thai nhi. Sự gia tăng chiều dày của độ mờ da gáy là một dấu hiệu dự báo nguy cơ thai nhi mắc các bất thường nhiễm sắc thể, các dị tật của tim và cơ quan khác. Mặt khác, siêu âm còn giúp xác định xương mũi của thai nhi, nếu xác định không thấy xương mũi của thai nhi càng làm tăng nguy cơ trẻ mắc hội chứng Down.

- Vào tuần thứ 21 - 25 của thai kỳ: Qua siêu âm các bác sĩ chuyên môn có thể quan sát được gần như tất cả các bất thường về hình thái thai nhi như: sứt môi, hở hàm ếch, dị tật của các cơ quan khác… Đây là lần siêu âm cục kỳ quan trọng vì nếu cần đình chỉ thai nghén (bỏ thai) thì phải làm trước tuần thứ 28.

- Tuần thứ 31 – 32 của thai kỳ: Đây là lần khoảng thời gian siêu âm cuối cùng trước sinh đồng thời có thể phát hiện một số vấn đề về hình thái bất thường có thể xảy ra muộn về động mạch, tim và não. Ngoài ra,

Xét nghiệm máu:
- Thai kỳ ở tuần 11 – 13: Lấy 2ml máu thai phụ để đo nồng độ của hai hormone B-hCG và PAPP-A. sàng lọc trước sinh trong quý I của thai kỳ cho phép đánh già nguy cơ thai nhi bị mắc hội chứng Down, thể tam nhiễm sắc thể 18 hoặc 13.

Sàng lọc ở giai đoạn này không cho phép phân tích nguy cơ thai nhi bị dị tật hở của tủy sống hoặc sọ não, để biết được nguy cơ của loại dị tật này kỹ hơn cần phân tích chất AFP trong máu mẹ ở quý II của thai kỳ. Nồng độ thấp của chất PAPP-A liên quan đến nguy cơ bị bất thường nhiễm sắc thể 21 và 18. Nồng độ cao của chất B-hCG liên quan đến nguy cơ thai nhi bị mắc hội chứng Down, còn nồng độ thấp thì thai nhi có nguy cơ bị thể tam nhiễm sắc thể 18.

- Thai kỳ ở tuần 14 – 20: Lấy 2ml máu thai phụ để đo nồng độ AFP và uE3. Sự gia tăng của nồng độ AFP trong nước ối và trong máu mẹ liên quan đến nhiều dị tật của thai nhi, đặc biệt là khuyết tật của ống thần kinh; sự sụt giảm nồng độ AFP được thấy trong khoảng 30% trường hợp thai nhi mắc hội chứng Down cùng với nồng độ uE3 giảm.

Nếu kết quả sàng lọc thai nhi cho thấy “thai nhi tăng nguy cơ” có nghĩa là thai nhi có nguy cơ mắc hội chứng Down hoặc tam nhiễm thể 18/ 13 cao, chứ chưa phải là đã hoàn toàn mắc bệnh. Lúc này các bác sĩ chuyên môn sẽ tư vấn cho bạn về các xét nghiệm cần được thực hiện tiếp theo để chẩn đoán như lấy gai nhau hoặc nước ối để xét nghiệm tế bào thai nhi.

Nếu kết quả sàng lọc là “thai nhi không bị tăng nguy cơ”, tức cho thấy thai nhi giảm nguy cơ mắc hội chứng Down hoặc tam nhiễm sắc thể 18/ 13. Tuy nhiên kết quả sàng lọc không thể loại trừ hoàn toàn khả năng thai nhi mắc các hội chứng này và những bất thường khác của nhiễm sắc thể.

Tỉ lệ thai phụ mắc nhiều bệnh lý nội, ngoại khoa kết hợp hoặc có liên quan thai kỳ như thiếu máu di truyền (Thalassemie), cường giáp, tim mạch, viêm gan siêu vi B, tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ ngày càng gia tăng.

Qua thống kê của Hiệp hội Sản phụ khoa thế giới (FIGO), tỷ lệ mắc đái tháo đường trong thai kỳ ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 16% trên tổng số các bà mẹ mang thai và tiền sản giật chiếm 3 – 5%. Tuy nhiên, đa số các trường hợp được phát hiện khá muộn, thường là vào 3 tháng cuối thai kỳ.

Không được phát hiện kịp thời, các bệnh lý này không những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của thai phụ mà thai nhi còn buộc phải sinh ra trong những hoàn cảnh ngặt nghèo (chủ động sinh non) hoặc thậm chí không có cơ hội sống (chủ động kết thúc thai kỳ nhằm bảo vệ người mẹ).

Theo các bác sĩ, ở mỗi một thời điểm của thai kỳ, thai phụ sẽ có những kiểm tra khác nhau. Theo đó, thời gian vàng để làm xét nghiệm sàng lọc trước sinh đối với xét nghiệm Double test (xét nghiệm đánh giá một số nguy cơ mắc hội chứng Down) là ở thời điểm thai kỳ từ 11 -13 tuần 6 ngày; còn ở tuần thứ 17 của thai kỳ thì xét nghiệm Triple test (xét nghiệm nhằm phát hiện các thai có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh).

Trong khi đó, siêu âm thường được thực hiện từ tuần 11-13 để đánh giá sự hiện diện của xương mũi cũng như đo khoảng sáng sau gáy thai nhi (thường gọi là độ mờ da gáy). Ngoài ra, ở thời điểm thai 20 - 22 tuần, thai phụ được siêu âm 4 chiều để khảo sát đầy đủ hình thái bên ngoài cũng như cấu trúc các cơ quan quan trọng trong cơ thể.

Khi kết quả nguy cơ cao thì sản phụ được tư vấn làm thủ thuật sinh thiết gai nhau (ở tuổi thai từ 11-13 tuần) hoặc chọc ối (tuổi thai từ 16-18 tuần). Trước khi thực hiện, thai phụ ăn sáng, đo điện tim, làm một số xét nghiệm cần thiết trước khi làm thủ thuật như: công thức máu, nhóm máu ABO, Rh, đông cầm máu, viêm gan siêu vi B, HIV...

Theo các bác sĩ, việc khám thai thường xuyên và định kỳ là biện pháp quan trọng nhằm đánh giá rủi ro, phát hiện sớm các biến chứng thai kỳ thường gặp, cũng như chẩn đoán sớm và đầy đủ những dị tật bẩm sinh của thai nhi, nhằm có một kế hoạch sinh con ra đời an toàn và điều trị sơ sinh kịp thời cho những khiếm khuyết bẩm sinh còn cơ hội sửa chữa.

Vì vậy, thai phụ không nên chờ đến khi xuất hiện những triệu chứng bất thường mới đi khám, mà nên bắt đầu chăm sóc tiền sản ngay từ 3 tháng đầu thai kỳ và duy trì việc thăm khám định kỳ cho đến ngày sinh nở.

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Siêu Âm Là Phương Pháp Xét Nghiệm Dị Tật Thai Nhi An Toàn Nhất

Thai phụ 18 tuổi ở Thanh Hóa mắc bệnh Basedow nhưng tự ý bỏ thuốc do nghĩ bệnh đã ổn định. Chị không ngờ, chỉ vì sự chủ quan này, chị và thai nhi đã có lúc đối diện với lằn ranh sinh tử.

Bà mẹ trẻ Đinh Thị Kiều Loan (SN 1995) ở khối 4, Phường Hồng Sơn, TP Vinh hiện đang kinh doanh tại nhà và vừa sinh con gái đầu lòng được 3 tháng tuổi. Chị cho biết, trước đó, trong thời kỳ đầu mang thai, vợ chồng chị chưa có hiểu biết nhiều nên đã bỏ qua xét nghiệm dị tật thai nhi ở giai đoạn đầu thai kỳ.


Thông qua hệ thống truyền thông trên loa phường, qua các buổi truyền thông trực tiếp của cán bộ dân số phường/khối… vợ chồng chị Kiều Loan đã được nghe về tầm quan trọng của việc tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh với những xét nghiệm double test, triple test, đo độ mờ gáy... giúp đánh giá nguy cơ các hội chứng down, dị tật bẩm sinh…;

Tiếp đến tháng 6/2018, khi sinh con tại Bệnh viện Đa khoa thành phố, gia đình chị đã tự nguyện cho cháu bé làm xét nghiệm lấy máu gót chân sau 72 giờ sinh để giúp phát hiện sớm và chữa trị nếu con có dấu hiệu các bệnh liên quan đến rối loạn nội tiết, chuyển hóa bẩm sinh…

 Sau hơn 1 tháng sinh con, các bác sĩ của bệnh viện đã có kết quả phản hồi về xét nghiệm và thông báo em bé khỏe mạnh bình thường nên gia đình rất vui mừng, yên tâm.

Theo cặp vợ chồng trẻ Kiều Loan - Minh Thông: “Việc tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh và sơ sinh là vô cùng cần thiết, nên được truyền thông, phổ biến rộng rãi hơn để cho toàn thể người dân đều biết”

Theo bà Phùng Thị Thanh, Giám đốc Trung tâm Dân số-KHHGĐ TP Vinh: “Từ tháng 7/2013, Trung tâm đã bắt đầu cho triển khai đề án tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh và sơ sinh trên địa bàn thành phố với 25/25 xã/phường. Tập huấn nâng cao năng lực cho báo cáo viên, cán bộ truyền thông tại cơ sở. Đẩy mạnh tuyên tuyền, vận động các bà mẹ mang thai về 3 thời điểm cần nhớ để thực hiện tầm soát: mang thai tuần thứ 11 đến tuần thứ 13; mang thai tuần từ 21-23 và mang thai tuần từ 31-33…".

Thành phố cũng tập trung đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của bà mẹ mang thai và các sản phụ ở khu dân cư theo nhóm, cụm về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tham gia tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh và sơ sinh có thể giúp phát hiện và can thiệp sớm các dấu hiệu để giúp trẻ phát triển bình thường. 

Hoặc việc can thiệp này có thể giúp giảm nhẹ các hậu quả cho trẻ. Ngoài ra, còn giúp cha mẹ có những quyết định nên giữ hay bỏ thai nếu như thai nhi đã mang khuyết tật quá nặng, khó có thể sống sót hay phát triển sau khi sinh ra…”.

Thai phụ 18 tuổi ở Thanh Hóa mắc bệnh Basedow nhưng tự ý bỏ thuốc do nghĩ bệnh đã ổn định. Chị không ngờ, chỉ vì sự chủ quan này, chị và thai nhi đã có lúc đối diện với lằn ranh sinh tử.

Cách đây 2 năm, bắt đầu bằng các triệu chứng cổ to, phình, chị Lương Thị Chuyên (18 tuổi, Thường Xuân, Thanh Hóa) đi khám tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hoá và phát hiện bị Basedow. Điều trị được một thời gian do thấy các triệu chứng ổn định, chị phát hiện mang bầu, lúc đó, chị đã bỏ thuốc điều trị.

“Suốt thời gian mang thai, tôi chỉ đi khám 2 lần, chỉ siêu âm xem con có ổn không, còn mẹ thì không… quan tâm”, chị Chuyên cho biết.

Khi thai được 28 tuần, thai phụ trẻ tuổi thấy mệt mỏi, hay vã mồ hôi, đánh trống ngực. 2 tuần sau, chị Chuyên xuất hiện tình trạng mệt, khó thở tăng dần, kèm phù 2 chi dưới, ho khạc đờm đục. Gia đình đưa chị đi cấp cứu tại BVĐK Thanh Hoá, sau đó chuyển tuyến lên Bệnh viện Bạch Mai.

Theo Giám đốc Trung tâm Dân số-KHHGĐ TP, bà Phùng Thị Thanh (đứng): "Công tác khảo sát, lập danh sách, phân loại, theo dõi số phụ nữ đang mang thai ở từng địa phương được thực hiện thường xuyên, cập nhật kịp thời"

Kết quả, trong 5 năm qua, TP Vinh đã tổ chức được 1.468 buổi truyền thông về tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh và sơ sinh tại cộng đồng xã, phường, khối, xóm… với đối tượng đích là phụ nữ có thai và đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ; cấp phát được trên 10.000 tờ rơi, tư vấn cho hàng trăm phụ nữ có nhu cầu thông tin; phối hợp xây dựng được 1 phóng sự, 50 tin bài liên quan… Qua đó, nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc tham gia tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh và sơ sinh ngày càng cao, số lượng sản phụ chủ động đi khám ngày càng nhiều.

Bên cạnh những sản phụ được hưởng đề án, nhiều gia đình còn chủ động tự nguyện đến Bệnh viện Đa khoa Thành phố và Bệnh viện Sản Nhi tỉnh để tầm soát...

Theo chị Nguyễn Thị Ngân – cán bộ chuyên trách dân số Phường Đội Cung - TP Vinh: "Phường có khoảng 8.600 nhân khẩu và 2.230 hộ dân, trung bình năm bình quân có khoảng 150 cháu ra đời. Qua hoạt động công tác tuyên truyền, dân số, qua thăm khám dịch vụ tốt, đến nay, hiểu biết của phụ nữ trong độ tuổi mang thai và đang mang thai đã được nâng lên. 

Hầu hết chị em nhớ được lịch đi khám thai định kỳ, làm các xét nghiệm không xâm lấn tầm soát, chẩn đoán đúng với thời kỳ cần trước sinh và sơ sinh để trẻ sinh ra được khỏe mạnh, góp phần giảm tỷ lệ trẻ sinh ra bị khuyết tật, nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn".

Theo chị Nguyễn Thị Ngân – cán bộ chuyên trách dân số Phường Đội Cung - TP Vinh: "Từ 2013 lại đây, phường làm tốt công tác tầm soát chẩn đoán và điều trị bệnh, tật trước sinh và sơ sinh, góp phần giúp các cháu sinh ra đều khỏe mạnh không có cháu nào bị dị tật bẩm sinh"

“Lúc vào viện vì khó thở, tôi vẫn nghĩ rất bình thường. Nhưng đến lúc bác sĩ chẩn đoán, thông báo tình hình, tôi rất lo sợ, thậm chí đã nghĩ tới tình huống xấu nhất. Chỉ muốn con được chào đời khoẻ mạnh”, chị Chuyên nhớ lại.

Tại đây, chị được tiến hành các xét nghiệm dị tật thai nhi, kết quả cho thấy bệnh nhân mắc Basedow, có tổn thương thận, cường giáp mạnh, suy tim nặng (chỉ bằng 2/3 chức năng người bình thường), tràn dịch màng phổi 2 bên, viêm phổi. Với thai nhi, có tình trạng thiểu ối. Suốt 2 tuần nằm viện, thai phụ tuổi teen này liên tục mệt mỏi, ăn uống kém, sốt cao liên tục (gần 39oC). Đặc biệt, huyết áp của bệnh nhân liên tục ở mức cao khó kiểm soát, mạch rất nhanh.

“Thai nhi, lúc này có những triệu chứng rất nguy kịch khi có lúc máy thưa, thiểu ối, nguy cơ thai chết lưu trong tử cung. Để cứu mẹ, bệnh nhân phải dùng thuốc lợi tiểu, nhiều kháng sinh, nhưng nếu lợi tiểu, ối thai nhi càng giảm, thai đối mặt nhiều nguy cơ hơn. Bệnh nhân và người nhà đứng trước sự lựa chọn: Cứu mẹ hoặc cứu con…”, TS Nguyễn Quang Bảy, phụ trách Khoa Nội tiết - Đái tháo đường (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết.

Ngay lập tức, các bác sĩ đã xin ý kiến hội chẩn toàn viện, theo dõi liên tục, điều trị theo hướng cơn bão giáp trạng. Sau 2 tuần điều trị, thai phụ hết sốt, mạch chậm lại, huyết áp duy trì, hết khó thở, cai thở oxy. Với thai nhi đã ổn định, không còn thiểu ối.

Trung tâm Dân số-KHHGĐ TP Vinh tích cực phối hợp với Bệnh viện Đa khoa Thành phố, Trung tâm Y tế, trạm y tế các phường, xã... trong việc tư vấn, lấy mẫu máu gót chân cho khi em bé sinh ra từ 48-72 giờ - gửi mẫu máu ra Bệnh viện Phụ sản TW để làm xét nghiệm dị tật thai nhi và sau đó trả kết quả về cho đối tượng...


Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

Khám Sàng Lọc Trước Sinh : Dị Tật Bẩm Sinh Gây Hậu Qủa Về Thể Chất Và Tinh Thần

Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh là 1,73%. Như vậy, mỗi năm thế giới có khoảng 8 triệu trẻ chào đời với một dị tật bẩm sinh. 

Hầu hết trẻ em sinh ra đều khỏe mạnh nhưng vẫn có khoảng 2-3% bị dị tật bẩm sinh, gây hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một số dị tật bẩm sinh có thể rất nhẹ, tuy nhiên một số khác lại gây ra những hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần của trẻ như hội chứng Down, tim bẩm sinh… cần được tầm soát và can thiệp sớm giúp trẻ phát triển bình thường.


Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 1,5 triệu trẻ chào đời, trong đó có từ 2 - 3% bị bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh như: Mắc bệnh Down (chậm phát triển trí tuệ), hội chứng Ewards (dị tật do thừa nhiễm sắc thể), dị tật ống thần kinh, thiếu men G6PD (trẻ không đủ men này các tế bào hồng cầu khó hoạt động bình thường), tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh; bị Thalassemia (tan máu bẩm sinh)... Tuy nhiên, khi mang thai, nhiều bà mẹ vẫn chủ quan bỏ qua việc sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh để rồi hối hận khi không may gặp phải hậu quả đau lòng.

Nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhiều dị tật bẩm sinh có thể được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời bằng kỹ thuật sàng lọc trước sinh và sơ sinh, đem lại cho trẻ một cuộc sống khỏe mạnh, bình thường. Trong quá trình thăm khám, các chuyên gia cho rằng, nếu chẩn đoán sai, không phát hiện ra dị tật hay bệnh ở thai nhi sẽ để lại nhiều hệ lụy. Vì vậy, người dân khi khám sàng lọc trước sinh phải đến các cơ sở uy tín, chất lượng.

Còn vợ chồng chị T.T.T (29 tuổi, ở quận Hoàng Mai, Hà Nội) như đứt từng khúc ruột khi quyết định bỏ đi đứa con đầu lòng. Chị T chia sẻ: “Khi mang thai ở tuần 16, thấy con cử động nhẹ trong bụng, tôi thực sự hạnh phúc. Thế nhưng, tin dữ ập tới, chỉ ít ngày sau đó khi tôi đi kiểm tra thai kỳ và thực hiện sàng lọc trước sinh thì bác sĩ thông báo, thai nhi bị mất một cánh tay và còn mắc thêm bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh-PV)”.

Cách đây 5 năm, khi mang thai đứa con đầu lòng, chị Đ.T.L (31 tuổi, ở phố Lê Duẩn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) chỉ đi siêu âm thai nhi một lần chủ yếu để xác định giới tính. Chị L cho biết, khi đó thấy cả hai vợ chồng khỏe mạnh, gia đình nội, ngoại không ai mắc bệnh nên suốt quá trình mang thai đã chủ quan, không tuân thủ thực hiện kỹ thuật sàng lọc trước sinh. May mắn đã không mỉm cười với hai vợ chồng khi đứa con sinh ra bị chậm phát triển trí tuệ.

Theo BS Tô Kim Hoa, chuyên gia trong lĩnh vực sàng lọc phát hiện sớm dị tật bẩm sinh ở trẻ, các kết quả nghiên cứu cho thấy, tình trạng tật, bệnh ở thai nhi và trẻ sơ sinh thường bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu như: Sai lệch di truyền (bất thường nhiễm sắc thể, rối loạn gene, rối loạn chuyển hóa…).

Trong quá trình mang thai, bà mẹ tiếp xúc môi trường độc hại (như: Hóa chất, không khí, đất, nước…), hoặc uống thuốc trong ba tháng đầu của thai kỳ, thậm chí mắc các bệnh nhiễm trùng trong khi mang thai (như: Giang mai, Rubella, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng sinh dục…). Việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh là để phát hiện, can thiệp sớm nhằm hạn chế các tật, bệnh.

Sàng lọc trước sinh là siêu âm hình thái thai nhi, đo độ mờ da gáy khi tuổi thai từ 11 - 13 tuần để phát hiện nguy cơ mắc hội chứng Down và một số bệnh lý khác. Siêu âm hình thái và cấu trúc các cơ quan của thai nhi vào lúc tuổi thai từ 20 đến 24 tuần nhằm phát hiện các bất thường của hệ thần kinh, hệ tim mạch, ở lồng ngực, dị tật của dạ dày - ruột, sinh dục - tiết niệu, xương...

 Sàng lọc sơ sinh là lấy máu gót chân trẻ 48 giờ sau sinh nhằm phát hiện một số bệnh như: Suy giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh và một số rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.

Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhiều dị tật bẩm sinh đã có thể được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời bằng sàng lọc trước sinh và sơ sinh, giúp đem lại cho trẻ một cuộc sống khỏe mạnh, bình thường. Sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh là việc dùng các biện pháp như siêu âm, khám sàng lọc trước sinh, xét nghiệm nước ối, lấy máu gót chân trẻ… để giúp phát hiện sớm các bệnh lý do rối loạn chuyển hóa hoặc di truyền ngay từ trong giai đoạn bào thai và sơ sinh, từ đó có các biện pháp can thiệp và điều trị kịp thời.

Ba thời điểm quan trọng để kiểm tra thai kỳ

Siêu âm:

- Tuần thứ 11 - 14 của thai kỳ: Siêu âm giúp đo độ mờ da gáy để tầm soát hội chứng Down và một số bệnh lý khác.

- Tuần thứ 20-22 của thai kỳ: Đây là thời điểm khảo sát hình thái học thai nhi, giúp phát hiện hầu hết những dị tật của thai về hình thái, cấu trúc như dị tật ở đầu, mặt, chân, tay và các bộ phận khác.

- Tuần thứ 32 của thai kỳ: Siêu âm để đánh giá sự tăng trưởng của thai, phát hiện các trường hợp thai chậm tăng trưởng trong tử cung.

Ngoài 3 thời điểm này, bác sĩ có thể chỉ định thêm những lần khác tùy theo tình hình của từng bà mẹ.

Xét nghiệm:

- Xét nghiệm máu người mẹ: Xét nghiệm này nên thực hiện sớm trong 3 tháng đầu thai kỳ. Thông qua việc kiểm tra các chất do bào thai tiết ra trong máu mẹ, có thể biết được thai phụ có nguy cơ sinh con mắc bệnh lý di truyền ở mức độ cao hay thấp. Cùng với siêu âm thai nhi, nếu thai phụ thuộc nhóm có nguy cơ cao, bác sĩ sẽ tư vấn và chỉ định khám sàng lọc thai nhi ở đâu di truyền. Đây mới chính là kỹ thuật giúp chẩn đoán xác định các bất thường ở bào thai.

- Xét nghiệm di truyền: Được thực hiện vào 3 tháng đầu và giữa của thai kỳ, gồm sinh thiết gai nhau và chọc ối giúp phát hiện những thai nhi bị rối loạn nhiễm sắc thể và bị bệnh thiếu máu tán huyết di truyền bẩm sinh. Thông qua sàng lọc trước sinh, những thai phụ bị nhiễm hoặc nghi ngờ bị nhiễm sởi hoặc Rubella cũng có thể được phát hiện.

Hiện nay, mỗi thai phụ đều được khuyến khích sàng lọc trước sinh ngay từ 3 tháng đầu mang thai để giúp phát hiện sớm các bất thường ở thai nhi. Để hạn chế thấp nhất những hậu quả do các dị tật bẩm sinh không được sàng lọc, tất cả các bà mẹ mang thai nên tham gia sàng lọc trước sinh và sơ sinh để phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh nếu có hoặc tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần, giảm số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Để hạn chế thấp nhất những hậu quả do các dị tật bẩm sinh không được sàng lọc, tất cả các bà mẹ mang thai nên tham gia sàng lọc trước sinh và sơ sinh để phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh nếu có hoặc tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần, giảm số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Hiện trên cả nước có 5 trung tâm sàng lọc chẩn đoán trước sinh và sơ sinh tại các bệnh viện, gồm: Phụ sản Trung ương, Phụ sản Hà Nội, Từ Dũ (TPHCM), Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương, Nhi Trung ương. Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) cho biết, ở Việt Nam mới áp dụng việc miễn phí thực hiện hai xét nghiệm sàng lọc trước sinh gồm: Siêu âm để phát hiện bất thường hình thái thai nhi; xét nghiệm máu mẹ và xét nghiệm sàng lọc sơ sinh đối với hai bệnh thiếu men G6PD và suy giáp bẩm sinh cho một số nhóm đối tượng như người nghèo, cận nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Còn lại, đa phần, nguồn chi phí cho các loại xét nghiệm sàng lọc đều do người dân tự chi trả (chiếm khoảng 90%).

Thời gian tới, ngành Dân số sẽ thúc đẩy việc đưa chương trình sàng lọc này vào phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế. Mặt khác, chương trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh sẽ tiến tới mở rộng phạm vi các loại bệnh được đưa vào danh mục thanh toán của bảo hiểm y tế để tăng cơ hội tiếp cận cho người dân.

Theo các chuyên gia y tế, không phải tất cả bệnh lý của thai nhi đều được phát hiện từ trong bụng mẹ. Chính vì vậy, phải có sàng lọc sơ sinh, tức là lấy máu ở gót chân trẻ mới sinh ra trong vòng 36 đến 48 giờ để khám sàng lọc trước sinh.

Việc sàng lọc này có thể phát hiện được 3 bệnh là suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD và tăng sản thượng thận bẩm sinh, trong đó thiếu men G6PD là nhiều nhất. Trẻ bị bệnh này thường bị vàng da, có thể có nhiều biến chứng nguy hiểm trong giai đoạn sơ sinh, tuy nhiên có thể phòng ngừa nếu được phát hiện sớm.

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2018

Chọc Ối Có Mang Lại Sự Chính Xác Khi Kiểm Tra Sức Khỏe Thai Nhi

Chọc ối là một thủ thuật y khoa cần thiết với mẹ bầu có kết quả siêu âm bất thường, giúp xác định chính xác hơn nguy cơ di tật bẩm sinh của trẻ. Khi tiến hành thủ thuật này, các bác sĩ sẽ chọc kim vào khoang ối thông qua hình ảnh siêu âm. Chọc ối có đau không? Lấy dịch ối có ảnh hưởng đến thai nhi không? Đây là câu hỏi nhiều mẹ bầu thắc mắc, lo sợ.

Nếu bắt buộc phải thực hiện chọc ối thường bác sĩ sẽ chỉ định trong khoảng tuần thai từ 15-19. Kết quả sẽ chính xác đến 99,4 %. Chọc ối là phương pháp điển hình nhất để phát hiện hội chứng Down. Không những thế, lấy nước ối xét nghiệm còn chỉ ra hàng trăm rối loạn gen khác nhau như:

Mẹ cứ bình tĩnh. Ngày nay với công nghệ kĩ thuật hiện đại, đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn cao việc thực hiện chọc ối được tiến hành rất dễ dàng. Hơn nữa, các dụng cụ y tế được sát trùng, đảm bảo sự an toàn cao nhất đến mẹ và thai nhi, nên hoàn toàn không có nguy cơ bị nhiễm trùng ối hay rỉ ối về sau.


Quá trình chọc ối xét nghiệm chỉ diễn ra trong khoảng 30 phút. Bác sĩ thăm khám và siêu âm để xác định vị trí chọc ối ở một khoảng cách an toàn cho bào thai. Các bước tiến hành:

Da bụng được sát trùng, và bác sĩ dưới hướng dẫn của siêu âm sẽ dùng một kim nhỏ để đi qua thành bụng, qua cơ tử cung, lấy nước ối gửi xét nghiệm…

Không mẹ bầu nào muốn nguy cơ dị tật thai nhi xuất phát từ nguyên nhân do bất cẩn của bản thân. Nếu có một nghiên cứu chứng minh rằng chế độ ăn với hàm lượng carb thấp có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bé, mẹ có sẵn sàng thay đổi?

Theo kết quả nghiên cứu mới của Hội Y khoa Mỹ cho biết nguy cơ sảy thai do chọc ối sẽ rất thấp, chỉ khoảng 1/1.600. Để hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi, mẹ sẽ được bác sĩ kê cho thuốc uống chống co bóp tử cung để an toàn hơn. Trong quá trình chọc ối, thai phụ có thể cảm thấy đau nhói chỉ vài phút. Mẹ cần cố gắng vượt qua tâm lý sợ hãi để có được kết quả xét nghiệm chính xác nhất nhé!

Chọc ối là một xét nghiệm tiền sản, dùng một mũi kim nhỏ lấy một lượng nước ối được rút từ tử cung qua thành bụng để mang đi kiểm tra

Sau khi chọc ối cần làm gì?
Mẹ nên cẩn thận thực hiện nghiêm ngặt những chỉ định của bác sĩ sau khi thực hiện lấy ối để bảo vệ thai nhi:

Thai phụ cần uống thuốc đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ, nên nghỉ ngơi 2-3 ngày để theo dõi thai
Tránh quan hệ tình dục

Cùng với triple test thì xét nghiệm double test là xét nghiệm tầm soát quan trọng trong 3 tháng đầu thai kỳ. Đừng vì tiếc tiền hay bất kỳ lý do nào đó mà không thực hiện để rồi sinh con ra hối hận đã quá muộn.

Đồng thời, mẹ cần lưu tâm những diễn biến ảnh hưởng đến thai và liên hệ ngay bác sĩ để kịp thời xử lý sau khi chọc ối:

Bị chuột rút, ra huyết nhiều ở âm đạo, bị rò rỉ nước ối, vì đây có thể là những dấu hiệu sẩy thai

Trường hợp bị sốt kéo dài rất có thể mẹ bị nhiễm trùng sau khi lấy ối

Trên đây là các thắc mắc và giải đáp cho những vấn đề xoay việc việc chọc ối có đau không? Những rủi ro khi lấy dịch ối. Mong rằng, những thông tin này sẽ giúp ích cho mẹ khi cần.

Niềm vui có con chưa được bao lâu, vợ chồng chị Huỳnh ở xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP.HCM đã sốc nặng khi bác sĩ chẩn đoán thai có khả năng dị tật cao.

Kết hôn gần 2 năm nhưng vẫn chưa có bầu, chị Huỳnh và chồng bắt đầu cảm thấy sốt ruột và đưa nhau đi khám. Thế nhưng, khi đến bệnh viện và được yêu cầu siêu âm, vợ chồng chị vỡ òa vì bác sĩ thông báo chị đã có thai. Niềm hạnh phúc ấy không thể diễn tả thành lời bởi gia đình đã mong con suốt bao tháng ngày. "Hai vợ chồng về mà sợ không dám chạy xe" – chị Huỳnh nhớ lại.

Dẫu vậy, niềm vui đến với vợ chồng chị được ít ngày thì cả hai lại phải đón nhận tin "sét đánh". Khi thai nhi được hơn 11 tuần tuổi, chị đi khám và được bác sĩ thông báo em bé bị độ mờ da gáy 6.0 và yêu cầu chị chuyển viện, tiến hành chọc ối xét nghiệm.

"Bác sĩ nói với mình là thai có khả năng bị dị tật cao, không nên để, có cô điều dưỡng cũng khuyến cáo nếu để thai cũng chưa chắc sẽ sinh con ra được. Lúc đó, mình buồn vô cùng, không thiết tha ăn uống gì, chỉ biết khóc. Vợ chồng mình chuyển qua bệnh viện khác khám và cũng nhận được kết quả tương tự. Khi mình hỏi bác sĩ, nếu chọc ối xét nghiệm mà con bị dị tật thì có chữa được không? Bác sĩ tư vấn chỉ có phá bỏ, còn nếu cố giữ thì phải tự chịu trách nhiệm" – chị Huỳnh mãi không thể quên ngày nhận tin dữ.

Hẹn bác sĩ ngày chọc ối rồi ra về, hai vợ chồng chị buồn và lo lắng vô cùng. Trên đường về, chị Huỳnh nhìn thấy một bà mẹ ẵm đứa con bị dị tật trên tay, ngồi ven đường xin tiền. Rồi bà ấy cúi xuống hôn con một cái, giây phút ấy, chị Huỳnh chợt nghĩ, người ta nghèo khó như vậy mà vẫn giữ con bên cạnh mà sao mình lại muốn bỏ con? Chính vì vậy mà chị Huỳnh quyết định không chọc ối hay làm thêm xét nghiệm không xâm lấn gì nữa. "Dù sao con mình vẫn là con mình" – bà mẹ 9x xác định tư tưởng rõ ràng như vậy.

"Dù không ít người cho rằng quyết định đó là liều lĩnh nhưng mình vẫn dứt khoát giữ con. Khi đó, mình còn có thêm động lực và niềm tin vì chồng luôn ở bên cạnh động viên, an ủi và khuyên nhủ vợ đừng quá lo lắng. Suốt 2 tháng trời mình ở nhà, không đi khám ở đâu, chỉ ăn uống và nghỉ ngơi, giữ tinh thần lạc quan, khi rảnh thì ngồi một mình nhìn trời và niệm phật" – chị Huỳnh chia sẻ thêm.

Những khó khăn vẫn chưa dừng lại với vợ chồng chị, thời điểm thai mới được 36 tuần, em bé đã "đòi" ra gặp bố mẹ. Khi nhập viện, chị Huỳnh lại hoang mang tột độ khi nghe bác sĩ nói mình có thể bị thai lưu, không sinh được con. Bệnh viện yêu cầu chị đưa hồ sơ đi khám trước đó nhưng chị giấu, không dám đưa và nói là để quên ở nhà. Bác sĩ tiếp tục yêu cầu chị vào kiểm tra thai rồi mới cho nhập viện. Nhớ lại khoảnh khắc đó, chị chỉ nhớ là rất đau nhưng mọi cơn đau đều tan biến, may mắn mỉm cười khi em bé chào đời bình an.

Trộm vía, em bé rất khỏe mạnh và không hề bị dị tật. Hiện tại, con trai của chị Huỳnh đã được 8 tháng tuổi, hoạt bát, nhanh nhẹn và thông minh như bao đứa trẻ khác. Các chỉ số của bé đều phát triển bình thường, đặc biệt là khi mang thai chị đi siêu âm, bác sĩ kết luận không thấy đốt sống ngón tay thứ năm nhưng bây giờ bàn tay bé vẫn bình thường, còn có thể cầm bút và ngồi viết trông rất đáng yêu.

Không có gì hạnh phúc hơn là nhìn thấy con cái mình khỏe mạnh, đặc biệt là với vợ chồng chị Huỳnh vì họ đã từng trải qua việc phải lựa chọn "giữ lại hay là bỏ". Chia sẻ câu chuyện của mình, chị Huỳnh cũng không khuyến khích các mẹ liều lĩnh bỏ qua lời khuyên của bác sĩ nhưng chị mong các mẹ hãy bình tĩnh, tin tưởng vào con mình. Còn với mình, chị Huỳnh nghĩ có lẽ trời Phật đã nghe thấy lời thỉnh cầu, cũng như niềm tin của chị, tình yêu thương con vô bờ bến đã giúp vợ chồng chị nhận được món quà vô giá

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Chuẩn Đoán Tại Đại Học Y Dược Bằng Phương Pháp Sàng Lọc Trước Sinh Rất Chính Xác

Trong khi đó, siêu âm thường được thực hiện từ tuần 11-13 để đánh giá sự hiện diện của xương mũi cũng như đo khoảng sáng sau gáy thai nhi (thường gọi là độ mờ da gáy). 

Chẩn đoán trước sinh là sử dụng những phương pháp sàng lọc trước sinh thăm dò bao gồm siêu âm, siêu âm chọc hút nước ối, lấy máu tĩnh mạch rốn, sinh thiết bánh nhau cho thai phụ trong thời kỳ thai nghén nhằm phát hiện những bất thường về hình thái, bất thường về nhiễm sắc thể của thai.


Trong giai đoạn mang thai, cơ thể người phụ nữ có những thay đổi liên tục và khó dự đoán. Bên cạnh đó, các bệnh lý trong thai kỳ ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, nhất là đối với những phụ nữ trên 35 tuổi.

TS. BS. Trần Nhật Thăng, Trưởng đơn vị Chẩn đoán trước sinh bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, cho biết tỉ lệ thai phụ mắc nhiều bệnh lý nội, ngoại khoa kết hợp hoặc có liên quan thai kì như thiếu máu di truyền (Thalassemie), cường giáp, tim mạch, viêm gan siêu vi B, tiền sản giật và đái tháo đường thai kì ngày càng gia tăng.

Theo đó, qua thống kê của Hiệp hội Sản phụ khoa thế giới (FIGO), tỷ lệ mắc đái tháo đường trong thai kỳ ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 16% trên tổng số các bà mẹ mang thai và tiền sản giật chiếm 3 – 5%. Tuy nhiên, đa số các trường hợp được phát hiện khá muộn, thường là vào 3 tháng cuối thai kỳ.

"Không được phát hiện kịp thời, các bệnh lý này không những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của thai phụ mà thai nhi còn buộc phải sinh ra trong những hoàn cảnh ngặt nghèo (chủ động sinh non) hoặc thậm chí không có cơ hội sống (chủ động kết thúc thai kỳ nhằm bảo vệ người mẹ)", TS. BS. Nhật Thăng cho hay.

Theo các bác sĩ, ở mỗi một thời điểm của thai kỳ, thai phụ sẽ có những kiểm tra khác nhau. Theo đó, thời gian vàng để làm xét nghiệm sàng lọc trước khi sinh đối với xét nghiệm Double test (xét nghiệm đánh giá một số nguy cơ mắc hội chứng Down) là ở thời điểm thai kỳ từ 11 -13 tuần 6 ngày; còn ở tuần thứ 17 của thai kỳ thì xét nghiệm Triple test (xét nghiệm nhằm phát hiện các thai có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh).

Trong khi đó, siêu âm thường được thực hiện từ tuần 11-13 để đánh giá sự hiện diện của xương mũi cũng như đo khoảng sáng sau gáy thai nhi (thường gọi là độ mờ da gáy). Ngoài ra, ở thời điểm thai 20 – 22 tuần, thai phụ được siêu âm 4 chiều để khảo sát đầy đủ hình thái bên ngoài cũng như cấu trúc các cơ quan quan trọng trong cơ thể.

Khi kết quả nguy cơ cao thì sản phụ được tư vấn làm thủ thuật sinh thiết gai nhau (ở tuổi thai từ 11-13 tuần) hoặc chọc ối (tuổi thai từ 16-18 tuần). Trước khi thực hiện, thai phụ ăn sáng, đo điện tim, làm một số xét nghiệm cần thiết trước khi làm thủ thuật như: công thức máu, nhóm máu ABO, Rh, đông cầm máu, viêm gan siêu vi B, HIV...

Theo các bác sĩ, việc khám phương pháp sàng lọc trước sinh thường xuyên và định kì là biện pháp quan trọng nhằm đánh giá rủi ro, phát hiện sớm các biến chứng thai kỳ thường gặp, cũng như chẩn đoán sớm và đầy đủ những dị tật bẩm sinh của thai nhi, nhằm có một kế hoạch ra đời an toàn và điều trị sơ sinh kịp thời cho những khiếm khuyết bẩm sinh còn cơ hội sửa chữa.

TS BS. Trần Nhật Thăngnhấn mạnh, không nên chờ đến khi xuất hiện những triệu chứng bất thường mới đi khám, mà nên bắt đầu chăm sóc tiền sản ngay từ 3 tháng đầu thai kì và duy trì việc thăm khám định kì cho đến ngày sinh nở.

Chi cục DS-KHHGĐ Khánh Hòa vừa tổ chức Hội nghị tổng kết công tác DS-KHHGĐ năm 2017, hưởng ứng Tháng hành động quốc gia về Dân số nhân kỷ niệm Ngày dân số Việt Nam 26/12.
Tham dự Hội nghị gần 100 đại biểu là đại diện lãnh đạo Sở Y tế, Ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ các huyện thị, thành phố, các ban ngành đoàn thể, cộng tác viên tiêu biểu…

Ths.BS Trần Thị Kim Oanh, Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ Khánh Hòa nêu ý nghĩa Tháng hành động Quốc gia về Dân số và kỷ niệm ngày Dân số Việt Nam năm 2017 với chủ đề "Thực hiện, tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh góp phần nâng cao chất lượng dân số" nhằm kêu gọi phụ nữ mang thai, nam/nữ thanh niên, nam/nữ thanh niên chuẩn bị kết hôn hãy thực hiện sàng lọc chẩn đoán trước sinh, sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các bệnh, tật, các rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh giúp trẻ sinh ra bình thường, tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, giảm số người tàn tật, thiểu năng trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Đồng thời tăng cường các giải pháp đồng bộ, bảo đảm duy trì vững chắc mức sinh thay thế, tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng sinh đủ hai con, giảm tốc độ gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng.

Đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã được triển khai tại Khánh Hòa năm 2011, thí điểm tại 30 xã thuộc 5 huyện, thị xã, thành phố. Năm 2012, Chi cục DS-KHHGĐ mở rộng đề án thêm ở 42 xã, với chỉ tiêu tỷ lệ sàng lọc sơ sinh là 6%.

Tuy nhiên, ngành dân số toàn tỉnh được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy đảng và chính quyền từ trung ương đến cơ sở, sự phối hợp nhiệt tình của các ban ngành và sự ủng hộ của nhân dân; sự hỗ trợ nguồn lực của địa phương đã giúp ngành triển khai các hoạt động theo kế hoạch đề ra. Theo đó mức giảm tỷ suất sinh 0.23%o (0.10%o KH); mức giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm 0.28% so với năm 2016, tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt 75.1%, số cặp vợ chồng sử dụng BPTT mới trong năm 97.912 cặp đạt 104.1% KH.

Ngoài ra, ngành còn hoàn thành các nhiệm vụ khác như đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ KHHGĐ; tầm soát các dị dạng, bệnh tật bẩm sinh và kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát, đánh giá thực hiện chương trình; đề án kiểm soát Dân số các vùng biển, đảo và ven biển…

Bước sang năm 2013, đề án đã được triển khai rộng khắp ở 8 huyện, thị, thành phố với 92 xã; chỉ tiêu tỷ lệ sàng lọc sơ sinh cũng được nâng lên ở mức 23%. Năm 2014 Chi cục DS-KHHGĐ tham mưu Sở Y tế và triển khai mở rộng thêm 45 xã còn lại nhưng chỉ tiêu tỷ lệ sàng lọc sơ sinh giảm còn 18% (năm 2014 do kinh phí bị cắt giảm). Năm 2015, 2016, 2017 tiếp tục triển khai trên toàn địa bàn tỉnh với chỉ tiêu được giao là 35% trên tổng số trẻ sinh ra. tìm hiểu thêm về chi phí sàng lọc trước sinh

Tại Hội nghị các đại biểu còn được nghe báo cáo tổng kết công tác DS-KHHGĐ năm 2017 và định hướng kế hoạch năm 2018.

Năm 2017, ngành Dân số Khánh Hòa trải qua nhiều khó khăn và thử thách, kinh phí đầu tư cho chương trình DS-KHHGĐ chưa được cấp ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các hoạt động của ngành; mức sinh chưa đồng đều giữa miền núi và thành thị, nông thôn. Tỷ suất sinh 2 huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh vẫn còn ở mức cao 19,4%o; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên 21,3% và số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vẫn còn đông chiếm 29.0% tổng số dân; tỷ lệ giới tinh khi sinh cao 110.2 trẻ em trai/100 trẻ em gái; tỷ lệ sàng lọc sơ sinh thấp 27,3% .


Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

Những Lưu Ý Dành Cho Mẹ Bầu Khi Xét Nghiệm Bằng Phương Pháp Chọc Ối

Số đo vòng bụng (qua rốn) lớn hơn 100 cm, bụng căng bóng, đau bụng, khó thở, ăn uống khó tiêu, giãn tĩnh mạch có khi dẫn đến bệnh trĩ.

 Dư nước ối trong thai kỳ là tình trạng hiếm gặp song đây là dấu hiệu cảnh báo thai nhi đang gặp nguy hiểm. Vì vậy, việc nhận biết và điều trị kịp thời sẽ giúp mẹ có thai kỳ khỏe mạnh và suôn sẻ.

Chọc ối là xét nghiệm xâm lấn, có thể gây sẩy thai mặc dù rất thấp (khoảng 1%). Phương pháp thực hiện đơn giản nhưng vẫn có nhiều rủi ro, khiến thai phụ lo lắng việc chọc ối có đau không?


Có lẽ, nhiều bà bầu sẽ cảm thấy lo lắng đến mất ăn, mất ngủ khi biết sẽ phải thực hiện thêm xét nghiệm chọc ối. Liệu rồi có chuyện gì không hay với bé không? Chọc ối có gây đau đớn không?

Mẹ cứ bình tĩnh. Ngày nay với công nghệ kĩ thuật hiện đại, đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn cao việc thực hiện chọc ối được tiến hành rất dễ dàng. Hơn nữa, các dụng cụ y tế được sát trùng, đảm bảo sự an toàn cao nhất đến mẹ và thai nhi, nên hoàn toàn không có nguy cơ bị nhiễm trùng ối hay rỉ ối về sau.

Khi thai nhi được 16 - 32 tuần tuổi, lượng nước ối đạt từ 250 - 600ml. Lượng nước ối tăng dần theo tuổi thai. Từ tuần thứ 34 của thai kỳ, nước ối tăng lên 800ml và duy trì cho đến khi thai nhi 36 tuần tuổi, lúc này nước ối có thể đạt mức cao nhất (1000ml) sau đó, nó giảm dần còn khoảng 600 - 800ml vào khoảng thời gian trước khi sinh. Nếu lượng ối tăng đột biến sẽ gây ra những biến chứng khó lường cho cả mẹ và bé.

Số đo vòng bụng (qua rốn) lớn hơn 100 cm, bụng căng bóng, đau bụng, khó thở, ăn uống khó tiêu, giãn tĩnh mạch có khi dẫn đến bệnh trĩ.

Đa ối cấp: Thường xảy ra vào kỳ tam cá nguyệt thứ 2, bụng mẹ lớn lên rất nhanh, khó vận đông, cử động khó khăn và nhanh chóng lâm vào tình trạng khó ở. Biểu hiện là bụng căng cứng và đau, tức thở. Thông thường bác sĩ sản khoa sẽ phải xử trí bằng cách chọc ối và cho mẹ đẻ non.

Đa ối mạn: Lượng ối tăng lên từ từ trong những tháng cuối thai kỳ. Vì diễn biến chậm nên tuy bụng thai phụ có to và căng hơn bình thường nhưng họ vẫn chịu đựng được. Thai nhi do bị ối chèn ép nên dễ dị dạng hoặc mắc các tật bẩm sinh trong nội tạng. Trọng lượng của trẻ sơ sinh có mẹ bị đa ối mạn thường nhẹ hơn các trẻ khác.

Bà mẹ bị đa ối sau khi sinh dễ bị băng huyết do tử cung căng giãn quá mức, sau đẻ không co lại như bình thường được nữa.

Đa ối khiến mẹ bị vỡ ối sớm dẫn đến sinh non, túi ối căng có thể khiến ngôi thai bị đảo lộn bất thường, ngoài ra đa ối cũng gây nên hiện tượng đờ tử cung và mẹ bị băng huyết sau sinh. Đối với bé, đa phần sẽ nhẹ cân hơn, dễ mắc các dị tật nội tạng.

Sinh nở khi bị dư nước ối

Việc sinh nở khi bị dư ối vẫn diễn ra bình thường đối với mẹ bầu. Tuy nhiên, có thể mẹ bầu sẽ phải sinh sớm hơn so với ngày dự sinh do những thay đổi trong tử cung.

Chọc ối là một thủ thuật y khoa cần thiết với mẹ bầu có kết quả siêu âm sàng lọc trước sinh bất thường, giúp xác định chính xác hơn nguy cơ di tật bẩm sinh của trẻ. Khi tiến hành thủ thuật này, các bác sĩ sẽ chọc kim vào khoang ối thông qua hình ảnh siêu âm. Chọc ối có đau không? Lấy dịch ối có ảnh hưởng đến thai nhi không? Đây là câu hỏi nhiều mẹ bầu thắc mắc, lo sợ.

Một số mẹ bầu ở tình trạng dư ối nghiêm trọng cũng có thể cần được kích thích sinh sớm hơn bình thường.

Mẹ bầu cũng có thể được chỉ định sinh mổ nếu thai nhi bất thường như: song thai, tư thế thai nhi phức tạp hay thai nằm ngang…

Nhưng nói chung, dư ối không gây ảnh hưởng nguy hiểm đến tính mạng mẹ và bé nếu được quan tâm và can thiệp kịp thời. Nếu chỉ ở thể nhẹ thì cơ thể mẹ điều chỉnh tự nhiên mức ối trong thai kỳ và sinh con khỏe mạnh, bình thường.

Nếu không xác định được nguyên nhân gây dư ối và tình trạng không nghiêm trọng thì việc nghỉ ngơi là cần thiết để mẹ bầu dần dần lấy lại cân bằng.

Nếu nguyên nhân là lượng đường trong máu quá cao thì mẹ bầu cần giảm bớt lượng đường nạp vào cơ thể hàng ngày. Lúc này việc theo dõi và kiểm tra tình trạng bệnh cần được tiến hành thường xuyên.

Nếu vấn đề bất thường do thai nhi thì mẹ bầu cần được theo dõi và can thiệp kịp thời. Có thể mẹ bầu chỉ cần uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ nhưng nếu tình hình phức tạp thì mẹ bầu có thể được kích thích để sinh sớm.

Nếu bắt buộc phải thực hiện chọc ối thường bác sĩ sẽ chỉ định trong khoảng tuần thai từ 15-19. Kết quả sẽ chính xác đến 99,4 %. Chọc ối là phương pháp điển hình nhất để phát hiện hội chứng Down.

Ngoài ra, nếu bệnh nặng và không thể xác định được nguyên nhân dư ối thì mẹ bầu cần nhập viện để y bác sĩ tìm hiểu và theo dõi thường xuyên và phản ứng kịp thời nhất. Một số kỹ thuật có thể can thiệp để giảm lượng nước ối tránh nguy cơ sinh non hay bong tróc nhau thai. Nhưng chúng có rủi ro về nhiễm trùng và vẫn mang nguy cơ sinh sớm. Do vậy trong những trường hợp nguy cấp cụ thể y bác sĩ sẽ tư vấn kỹ càng hơn về các kỹ thuật này.